Người nước ngoài bị tước quyền thừa kế tài sản tại Việt Nam khi nào?

Thừa kế, di chúc, di sản📅 08/06/2026🔄 Cập nhật: 08/06/2026🕐 18 phút đọc
Chia sẻ:
Người nước ngoài không mất quyền thừa kế vì quốc tịch. Phân tích khi nào thật sự bị tước quyền và khi nào chỉ được hưởng giá trị nhà đất tại Việt Nam.

Một người mang quốc tịch nước ngoài có thể bị tước quyền thừa kế tài sản tại Việt Nam, nhưng chỉ trong vài trường hợp cụ thể, chứ không phải vì quốc tịch. Nhầm lẫn giữa "bị hạn chế cách nhận" và "thật sự mất quyền" khiến không ít Việt kiều và người nước ngoài bỏ cuộc giữa chừng, để rồi đánh mất phần tài sản lẽ ra thuộc về mình.

Mang quốc tịch nước ngoài, liệu bạn có còn được hưởng di sản cha mẹ để lại ở Việt Nam? Nếu di sản là căn nhà, bạn được đứng tên sổ hồng hay buộc phải "mất trắng"? Và nếu bạn ở xa, nhiều năm chưa về làm thủ tục, phần của bạn liệu còn không? Đây là những câu hỏi khiến nhiều người lo lắng, bởi ranh giới giữa "bị giới hạn về hình thức nhận tài sản" và "bị tước quyền thừa kế" rất dễ lẫn, trong khi mỗi bên lại dẫn tới một hướng xử lý hoàn toàn khác nhau. Bài viết dưới đây phân tích đúng những trường hợp người nước ngoài thật sự bị tước hoặc mất quyền thừa kế, tách bạch với những trường hợp chỉ là giới hạn về cách nhận mà bạn vẫn bảo toàn được giá trị tài sản.

Quốc tịch nước ngoài không tự động làm mất quyền thừa kế tại Việt Nam

Cần khẳng định trước tiên: pháp luật Việt Nam không tước quyền thừa kế của một người chỉ vì người đó mang quốc tịch nước ngoài. Quyền để lại di sản và quyền hưởng di sản là quyền dân sự cơ bản, được pháp luật bảo đảm bình đẳng cho mọi cá nhân. Nói cách khác, một người con quốc tịch Mỹ, Úc hay Hàn Quốc vẫn nằm trong hàng thừa kế của cha mẹ ở Việt Nam đúng như một người con mang quốc tịch Việt Nam.

Với di sản có yếu tố nước ngoài, câu hỏi pháp lý đầu tiên là: luật của nước nào sẽ áp dụng? Bộ luật Dân sự phân tách rất rõ theo loại tài sản. Di sản là động sản (tiền, sổ tiết kiệm, cổ phần…) xác định theo pháp luật của nước mà người mất mang quốc tịch; còn di sản là bất động sản thì luôn theo pháp luật nơi có bất động sản đó.

"Thừa kế được xác định theo pháp luật của nước mà người để lại di sản thừa kế có quốc tịch ngay trước khi chết... Việc thực hiện quyền thừa kế đối với bất động sản được xác định theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó." Điều 680, Bộ luật Dân sự 2015

Điều này nghĩa là với nhà, đất tại Việt Nam, dù bạn hay người để lại di sản mang quốc tịch nào, pháp luật Việt Nam vẫn là pháp luật quyết định bạn được nhận phần đó ra sao. Và đây chính là nơi phát sinh phần lớn hiểu lầm, vì luật đất đai và nhà ở Việt Nam đặt ra giới hạn riêng cho người nước ngoài: giới hạn về cách nhận, không phải về quyền thừa kế.

Trước khi đi tiếp, cần phân biệt ba nhóm thường bị gộp làm một, vì quyền của họ khác nhau rất xa. Một là người Việt Nam định cư ở nước ngoài nhưng vẫn còn quốc tịch Việt Nam, được pháp luật đất đai xem là "cá nhân" như người trong nước. Hai là người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài, đã mang quốc tịch nước ngoài nhưng có nguồn gốc Việt. Ba là cá nhân nước ngoài thuần, không có gốc Việt. Càng xa "gốc Việt", giới hạn với nhà đất càng chặt, nhưng quyền được thừa kế thì cả ba nhóm đều có.

Bốn căn cứ thật sự làm một người mất hoặc bị tước quyền hưởng di sản

Khi một người thật sự không được hưởng di sản, lý do gần như luôn nằm ở một trong bốn căn cứ dưới đây của Bộ luật Dân sự. Các căn cứ này áp dụng cho mọi người thừa kế, kể cả người nước ngoài, bất kể quốc tịch.

Thứ nhất, bị người lập di chúc truất quyền. Người lập di chúc có quyền chỉ định người thừa kế và "truất quyền hưởng di sản của người thừa kế". Nếu cha hoặc mẹ bạn để lại di chúc hợp pháp và trong đó truất quyền của bạn, về nguyên tắc bạn không được hưởng phần theo di chúc. Tuy nhiên, quyền truất này không phải tuyệt đối, vì pháp luật vẫn bảo vệ một nhóm người thân thiết nhất.

"Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật... trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó: a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng; b) Con thành niên mà không có khả năng lao động." Khoản 1 Điều 644, Bộ luật Dân sự 2015

Nghĩa là nếu bạn là con chưa thành niên, là cha, mẹ, vợ hoặc chồng của người để lại di sản, hoặc là con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động, thì dù di chúc không cho bạn hưởng, bạn vẫn được nhận tối thiểu hai phần ba suất thừa kế theo pháp luật. Đây là điểm rất nhiều người ở nước ngoài không biết và dễ bị thuyết phục rằng "đã bị truất là mất hết".

Thứ hai, thuộc nhóm không được quyền hưởng di sản do hành vi của chính mình. Pháp luật loại trừ những người có hành vi nghiêm trọng với người để lại di sản hoặc với di chúc.

"Những người sau đây không được quyền hưởng di sản: a) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;... d) Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản." Khoản 1 Điều 621, Bộ luật Dân sự 2015

Hai trường hợp hay gặp trên thực tế là vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản, và làm giả hoặc giấu di chúc để trục lợi. Cần lưu ý rằng ngay cả người thuộc các nhóm này vẫn được hưởng di sản nếu người để lại di sản đã biết hành vi đó mà vẫn cho họ hưởng theo di chúc.

Thứ ba, tự mình từ chối nhận di sản. Đây không phải bị tước, mà là một lựa chọn, nhưng hệ quả thì giống nhau: bạn không còn phần đó. Việc từ chối phải lập thành văn bản, thể hiện trước thời điểm phân chia di sản, và không được nhằm trốn tránh nghĩa vụ tài sản của mình với người khác. Người ở nước ngoài đôi khi ký giấy "nhường phần" cho người thân trong nước mà không lường hết hệ quả, dẫn tới mất quyền một cách không mong muốn.

Thứ tư, để hết thời hiệu yêu cầu chia di sản. Đây là cái "bẫy" thầm lặng nhất với người ở xa, và sẽ được phân tích kỹ ở phần rủi ro phía dưới.

Với nhà đất, người nước ngoài thường chỉ được hưởng giá trị, không được đứng tên

Phần lớn nỗi sợ "người nước ngoài bị tước quyền thừa kế nhà đất" thực ra xuất phát từ đây, và bản chất là một hiểu lầm. Pháp luật không lấy đi quyền thừa kế của bạn; nó chỉ giới hạn hình thức bạn được nhận khi di sản là bất động sản. Bạn vẫn là người thừa kế hợp pháp, nhưng thay vì đứng tên trên Giấy chứng nhận, bạn nhận về giá trị của phần đó.

Gốc rễ nằm ở chỗ Luật Đất đai liệt kê những ai được công nhận là "người sử dụng đất". Danh sách này gồm cá nhân trong nước và người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam, người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài, và tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, nhưng không có cá nhân nước ngoài thuần. Vì không nằm trong nhóm "người sử dụng đất", một cá nhân nước ngoài không thể được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, kể cả khi nhận thừa kế hợp pháp.

"Trường hợp tất cả người nhận thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất đều là người nước ngoài hoặc người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở... thì người nhận thừa kế không được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất nhưng được chuyển nhượng hoặc được tặng cho quyền sử dụng đất thừa kế..." Khoản 3 Điều 44, Luật Đất đai 2024

Cơ chế này quan trọng vì nó cho thấy bạn không hề mất tài sản. Bạn được đứng tên là bên chuyển nhượng hoặc bên tặng cho phần đất thừa kế, tức là được hiện thực hóa phần của mình thành tiền hoặc giá trị. Trong thời gian chưa chuyển nhượng, người nhận thừa kế hoặc người được ủy quyền nộp hồ sơ tại tổ chức đăng ký đất đai để cập nhật vào sổ địa chính, và có thể ủy quyền cho người khác trông nom đất.

Với nhà ở, logic tương tự nhưng theo Luật Nhà ở. Cá nhân nước ngoài chỉ được sở hữu nhà ở khi đáp ứng điều kiện luật định, gồm được phép nhập cảnh, mua hoặc nhận nhà ở thương mại trong dự án không thuộc khu vực bảo đảm quốc phòng, an ninh, và trong giới hạn số lượng (không quá 30% số căn hộ trong một tòa chung cư, hoặc không quá 250 căn nhà riêng lẻ trong một khu vực tương đương cấp phường). Nếu phần nhà ở bạn được thừa kế nằm ngoài các điều kiện này, hệ quả cũng là hưởng giá trị.

"Trường hợp tổ chức, cá nhân nước ngoài được tặng cho, được thừa kế nhà ở không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 17 của Luật này hoặc vượt quá số lượng nhà ở quy định tại Điều 19 của Luật này hoặc thuộc khu vực cần bảo đảm quốc phòng, an ninh quy định tại Điều 16 của Luật này thì chỉ được hưởng giá trị của nhà ở." Điểm b khoản 2 Điều 20, Luật Nhà ở 2023

Bức tranh sẽ rõ hơn khi đặt cạnh nhau ba nhóm người thừa kế và cách họ nhận phần di sản là nhà đất:

Nhóm người thừa kếCách nhận di sản là nhà đất tại Việt Nam
Người Việt Nam định cư ở nước ngoài còn quốc tịch Việt NamĐược nhận và đứng tên Giấy chứng nhận như cá nhân trong nước
Người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài, được nhập cảnh và thuộc diện được sở hữu nhà ởĐược nhận thừa kế và được cấp Giấy chứng nhận đối với nhà ở gắn liền với đất ở
Cá nhân nước ngoài, hoặc người gốc Việt không thuộc diện sở hữu nhà ởVẫn được thừa kế nhưng chỉ hưởng giá trị; được chuyển nhượng hoặc tặng cho phần đất, không đứng tên sổ

Một ngoại lệ đáng nhớ là cá nhân nước ngoài kết hôn với công dân Việt Nam đang sinh sống tại Việt Nam thì được sở hữu nhà ở và có quyền của chủ sở hữu như công dân Việt Nam. Vì vậy, việc bạn thuộc nhóm nào không chỉ phụ thuộc quốc tịch, mà còn ở nguồn gốc, tình trạng nhập cảnh và quan hệ hôn nhân. Đây là lý do mỗi hồ sơ cần được soi chiếu riêng.

Trình tự để không đánh mất phần thừa kế khi bạn ở nước ngoài

Hiểu đúng quyền của mình mới là một nửa câu chuyện; nửa còn lại là làm đúng trình tự để quyền đó không "rơi" trên đường thủ tục. Với người đang ở nước ngoài, một quy trình hợp lý thường gồm các bước sau:

  1. Xác định cơ sở thừa kế, là có di chúc hợp pháp hay chia theo pháp luật, và rà soát hàng thừa kế: ai bị truất quyền, ai thuộc diện được hưởng không phụ thuộc nội dung di chúc, có ai rơi vào trường hợp không được hưởng di sản hay không.
  2. Chuẩn bị và hợp pháp hóa giấy tờ nhân thân cấp ở nước ngoài (giấy khai sinh, đăng ký kết hôn, giấy chứng tử, hộ chiếu): hợp pháp hóa lãnh sự và dịch công chứng tại Việt Nam trước khi nộp.
  3. Lập văn bản khai nhận hoặc thỏa thuận phân chia di sản tại tổ chức công chứng và thực hiện niêm yết theo quy định.
  4. Với bất động sản mà bạn không thuộc diện được đứng tên: lựa chọn phương án chuyển nhượng hoặc tặng cho phần đất cho người đủ điều kiện để nhận về giá trị, hoặc thỏa thuận để đồng thừa kế đủ điều kiện nhận hiện vật rồi thanh toán lại giá trị tương ứng cho bạn.
  5. Nếu bạn không thể về Việt Nam: lập văn bản ủy quyền hợp pháp cho luật sư hoặc người đại diện để thay bạn thực hiện toàn bộ thủ tục, làm việc với công chứng, ngân hàng, cơ quan đăng ký đất đai và các đồng thừa kế.
  6. Hoàn tất nghĩa vụ thuế, phí liên quan; sau đó mới đến bước chuyển giá trị hoặc tiền thừa kế ra nước ngoài theo quy định quản lý ngoại hối, vốn là một thủ tục riêng cần chuẩn bị từ sớm.

Những sai lầm khiến người nước ngoài thật sự mất phần thừa kế

Trớ trêu là phần lớn trường hợp mất phần thừa kế trên thực tế không đến từ quy định của luật, mà đến từ những sai lầm có thể tránh được. Dưới đây là những tình huống DEDICA gặp nhiều nhất.

Để hết thời hiệu vì chần chừ quá lâu. Đây là rủi ro nguy hiểm nhất với người ở xa, vì nó âm thầm và không thể đảo ngược.

Lưu ý quan trọng Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản và 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế (thường là ngày người để lại di sản mất). Hết thời hạn này, di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý. Người ở nước ngoài chần chừ quá lâu có thể mất quyền yêu cầu chia, dù trên giấy tờ vẫn là người thừa kế hợp pháp.
"Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó." Khoản 1 Điều 623, Bộ luật Dân sự 2015

Bị khai sót khi các đồng thừa kế trong nước tự khai nhận di sản. Một kịch bản rất thường gặp là người thân ở Việt Nam tiến hành khai nhận di sản và "quên" tên người thừa kế đang ở nước ngoài. Khi đó bạn không mất quyền, nhưng phải khởi kiện yêu cầu chia lại di sản do việc khai nhận đã bỏ sót người thừa kế, một quá trình tốn thời gian hơn nhiều so với việc tham gia ngay từ đầu.

Hiểu nhầm "chỉ được hưởng giá trị" thành "mất trắng". Không ít người nước ngoài, khi nghe nói không được đứng tên sổ hồng, đã buông bỏ phần nhà đất hoặc để người khác toàn quyền định đoạt. Như đã phân tích, bạn vẫn có quyền với phần giá trị tương ứng; bỏ cuộc ở đây đồng nghĩa tự đánh mất tài sản thật.

Giấy tờ cấp ở nước ngoài chưa hợp pháp hóa lãnh sự. Giấy khai sinh, đăng ký kết hôn, giấy chứng tử do cơ quan nước ngoài cấp nếu chưa hợp pháp hóa lãnh sự và dịch công chứng sẽ bị tổ chức công chứng và cơ quan đăng ký từ chối, khiến hồ sơ đình trệ, đôi khi nhiều tháng, và làm tăng nguy cơ chạm thời hiệu.

Tin rằng "đã bị truất quyền trong di chúc là hết phần". Nhiều khách kể rằng người trong gia đình nói họ "không có phần" vì là con ở nước ngoài hoặc con của vợ, chồng khác. Nếu bạn là vợ, chồng, cha, mẹ hoặc con chưa thành niên (hay con thành niên không có khả năng lao động) của người để lại di sản, bạn vẫn được bảo vệ phần tối thiểu hai phần ba suất thừa kế theo pháp luật, bất kể di chúc viết gì.

Vô tình rơi vào nhóm không được quyền hưởng di sản. Hành vi như vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng, hoặc sửa chữa, giấu, làm giả di chúc để trục lợi, có thể khiến chính người thừa kế bị loại trừ. Đây là rủi ro do hành vi, hoàn toàn nằm trong tầm kiểm soát của mỗi người.

Vai trò của DEDICA khi người nước ngoài nhận thừa kế tài sản tại Việt Nam

Với đặc thù khách hàng đang ở nước ngoài và khó về Việt Nam, DEDICA tư vấn ngay từ đầu một chiến lược tổng thể: xác định bạn thuộc nhóm thừa kế nào, di sản gồm những loại tài sản gì, và đâu là con đường ngắn nhất để bạn thật sự nhận được giá trị phần của mình. Chúng tôi hướng dẫn chuẩn bị và hợp pháp hóa lãnh sự giấy tờ từ nước ngoài, rà soát di chúc và hàng thừa kế để phát hiện sớm các rủi ro về truất quyền, khai sót hay thời hiệu.

Khi bạn không thể có mặt tại Việt Nam, DEDICA đại diện theo ủy quyền để khai nhận di sản tại tổ chức công chứng, làm việc với ngân hàng, cơ quan đăng ký đất đai và các đồng thừa kế; thương lượng khi có tranh chấp và tham gia tố tụng tại tòa án khi buộc phải khởi kiện chia lại di sản; đồng hành đến bước thi hành án và xây dựng phương án chuyển giá trị tài sản về nước cho bạn một cách hợp pháp.

Kết luận

Người nước ngoài không bị tước quyền thừa kế tài sản tại Việt Nam chỉ vì quốc tịch. Một người chỉ thật sự mất hoặc bị tước quyền hưởng di sản trong bốn trường hợp: (1) bị truất quyền trong một di chúc hợp pháp, nhưng vợ, chồng, cha, mẹ và con chưa thành niên hoặc không có khả năng lao động vẫn được bảo vệ tối thiểu hai phần ba suất; (2) thuộc nhóm không được quyền hưởng di sản do hành vi của chính mình; (3) tự nguyện từ chối nhận di sản; và (4) để hết thời hiệu yêu cầu chia di sản, là 30 năm với bất động sản và 10 năm với động sản. Riêng với nhà đất, cá nhân nước ngoài thường không được đứng tên Giấy chứng nhận, nhưng đây là giới hạn về cách nhận, không phải mất quyền: bạn vẫn được hưởng giá trị qua việc chuyển nhượng hoặc tặng cho phần đất. Bước hành động quan trọng nhất là vào cuộc sớm, gồm chuẩn bị và hợp pháp hóa giấy tờ, và nếu không về được Việt Nam thì ủy quyền cho luật sư xử lý ngay từ khâu rà soát hồ sơ để tránh chạm thời hiệu và tránh bị khai sót.

Mỗi hồ sơ thừa kế có yếu tố nước ngoài đều khác nhau ở quốc tịch, nguồn gốc, loại tài sản và tình trạng giấy tờ, và chính những khác biệt đó quyết định bạn được nhận hiện vật hay chỉ được hưởng giá trị. DEDICA Law Firm rà soát trường hợp cụ thể của bạn, chỉ rõ bạn thuộc nhóm nào và xây dựng lộ trình để bạn nhận được phần thừa kế của mình, kể cả khi bạn không thể có mặt tại Việt Nam. Liên hệ DEDICA để được luật sư tư vấn cho tình huống riêng của bạn trước khi thời hiệu hoặc một thủ tục bị bỏ sót làm mất đi phần tài sản đáng lẽ thuộc về bạn.

Nội dung bài viết mang tính tham khảo dựa trên quy định pháp luật tại thời điểm soạn thảo. Mỗi vụ việc có tình tiết riêng; vui lòng tham vấn luật sư DEDICA để được tư vấn chính xác cho trường hợp của bạn.

Lưu ý

Nội dung nêu trên chỉ mang tính chất tham khảo, không phải tư vấn pháp lý cá nhân cho trường hợp cụ thể của bạn. Quy định pháp luật có thể thay đổi và đáp án còn tùy thuộc tình tiết thực tế. Vui lòng liên hệ Công Ty Luật TNHH DEDICA để được tư vấn chính xác.

Cần tư vấn cho trường hợp cụ thể của bạn?

Mỗi vụ việc có chi tiết riêng. Gửi yêu cầu — luật sư DEDICA sẽ phản hồi trong 24 giờ.

Hoi An Ancient Town at Night

Kết nối với DEDICA

Chọn nền tảng để xem thông tin chi tiết

LinkedInTikTokFacebookYouTube